vật liệu bê tông, cốt thép, lớp bê tông bảo vệvà liên kết giữa chúng,
thay vì phân tích từng thành phần một cách tách rời.
Từgóc độ kết cấu, hệquảquan trọng nhất không chỉ là bê tông
và thép cùng suy yếu, mà còn là cơ chế làm việc đồng thời giữa chúng
bịphá vỡ. Khi liên kết bê tông–cốt thép giảm, ứng suất trong cốt thép
không còn được huy động đúng như giảthiết thiết kế, từ đó làm giảm
sức chịu tải còn lại, tăng biến dạng và gia tăng nguy cơ trượt cốt thép
hoặc mất neo. Sơ đồnày vì vậy nhấn mạnh rằng đánh giá kết cấu BTCT
sau hỏa hoạn phải được thực hiện theo hướng tổng hợp, xem xét đồng
thời lớp bê tông bảo vệ, trạng thái cốt thép và mức độsuy yếu liên kết
giữa hai vật liệu. Điều này phù hợp với các phân tích về bong tróc do
hỏa hoạn của Ozawa và cộng sự [11] và quan điểm đánh giá tổng hợp
của Wang Yuan [12].
2.4. Hiện tượng bong tróc (spalling)
Bong tróc bê tông khi cháy là một trong những dạng hư hỏng
nguy hiểm nhất của kết cấu bê tông cốt thép, vì nó làm mất lớp bê tông
bảo vệ, giảm tiết diện chịu lực và làm cốt thép tiếp xúc trực tiếp với
nhiệt độcao, từđó đẩy nhanh sựsuy giảm khảnăng chịu lực của cấu
kiện (Nguyễn Phi Long & Nguyễn Trúc Lin Na, 2025[20]; Amran và
cộng sự, 2022 [21]). Nghiên cứu tổng quan gần đây cho thấy hiện
tượng này đặc biệt nghiêm trọng đối với bê tông cường độcao do vật
liệu có cấu trúc đặc chắc, độthấm thấp và khảnăng thoát hơi ẩm kém.
Vềcơ chế, spalling chủ yếu xuất phát từ sự kết hợp giữa áp suất
hơi nước trong lỗ rỗng và ứng suất nhiệt do chênh lệch nhiệt độgiữa
lớp ngoài và phần lõi bê tông. Khi các ứng suất này vượt quá khảnăng
chịu kéo của bê tông, bề mặt bê tông sẽ bị nứt, tách lớp hoặc bong bật
cục bộ; trong trường hợp nghiêm trọng có thể xảy ra bong tróc nổ
(explosive spalling) [21]. Theo Nguyễn Phi Long và Nguyễn Trúc Lin
Na (2025)[20], nguy cơ bong tróc tăng lên khi bê tông có độ ẩm ban
đầu cao, bịgia nhiệt nhanh và có tính thấm thấp.
Các nghiên cứu cũng chỉra rằng HSC và đặc biệt là UHPC có
nguy cơ bong tróc cao hơn bê tông thường. Amran và cộng cho rằng
UHPC tuy có cường độ rất cao nhưng lại nhạy cảm hơn với cháy do vi
cấu trúc rất đặc sít, làm áp suất hơi tích tụ nhanh trong quá trình gia
nhiệt. Vì vậy, vật liệu có cường độcàng cao chưa chắc càng an toàn
hơn trong điều kiện hỏa hoạn nếu không kiểm soát tốt hiện tượng bong
tróc [21].
Một hướng hạn chếbong tróc hiệu quảlà bổsung sợi
polypropylene (PP) vào cấp phối bê tông. Chen và Liu (2004) [22]cho
thấy bê tông cường độcao có sử dụng sợi, đặc biệt là sợi PP hoặc sợi lai,
có khảnăng hạn chếbong tróc tốt hơn rõ rệt so với HSC thông thường
sau khi chịu nhiệt cao. Điều này được giải thích do sợi PP nóng chảy ở
nhiệt độtương đối thấp, tạo ra các vi kênh giúp hơi nước thoát ra ngoài,
từđó làm giảm áp suất trong lỗ rỗng và giảm nguy cơ bong tróc.
Như vậy, spalling là hiện tượng cần được đặc biệt lưu ý trong
đánh giá bê tông sau cháy, vì nó vừa phản ánh mức độ tổn thương nhiệt
của vật liệu, vừa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ cốt thép và
sức chịu lực còn lại của cấu kiện. Trong thực tế, việc đánh giá sau cháy
cần quan tâm đến mức độ bong tróc bề mặt, chiều sâu lớp bê tông bị
tách, tình trạng lộ cốt thép và loại bê tông sử dụng trong công trình,
đặc biệt đối với HSC và UHPC.
2.5.Tính không đồng nhất của vật liệu sau cháy
Dưới tác động của hỏa hoạn, bê tông cốt thép hư hỏng chủ yếu
do tương tác nhiệt –ẩm –cơ học. Nhiệt độcao làm nước trong bê tông
bay hơi, tăng áp suất trong hệ lỗ rỗng, đồng thời tạo chênh lệch nhiệt
độgiữa lớp ngoài và lõi cấu kiện, từđó phát sinh ứng suất nhiệt và vi
nứt trong bê tông. Mức độhư hỏng phụthuộc mạnh vào cường độđám
cháy, tốc độgia nhiệt và tính chất bê tông, đặc biệt là khả năng thấm
và thoát ẩm của vật liệu (Pulkit và cộng sự, 2025 [23]; Ibrahim và cộng
sự, 2025 [10]).
Khi nhiệt độtiếp tục tăng, bê tông bịsuy giảm cường độvà độ
cứng, còn lực bám dính giữa bê tông và cốt thép cũng giảm dần do vi
nứt nhiệt, suy yếu bê tông bao quanh thanh thép và chênh lệch giãn nở
nhiệt giữa hai vật liệu. Thí nghiệm gần đây cho thấy ởvùng nhiệt độ
thấp ảnh hưởng đến bám dính có thểchưa lớn, nhưng khi nhiệt độtăng
cao hơn thì cường độbám dính giảm rõ rệt và cơ chếphá hoại chuyển
dần sang dạng giòn hơn. Đây là một mắt xích quan trọng làm cấu kiện
BTCT mất khảnăng làm việc đồng thời giữa bê tông và cốt thép sau
cháy (Andrade và cộng sự, 2024 [24]; Banoth và cộng sự, 2024 [25]).
Với các loại bê tông đặc chắc, nhiệt và áp suất hơi còn có thểgây
bong tróc bề mặt hoặc bong tróc nổ, làm mất lớp bê tông bảo vệvà
khiến cốt thép bịnung nóng trực tiếp. Vì vậy, hư hỏng của BTCT trong
cháy không chỉ là suy giảm riêng rẽ của bê tông hay cốt thép, mà là sự
suy giảm đồng thời của bê tông, cốt thép và vùng liên kết giữa chúng,
dẫn đến giảm nhanh khảnăng chịu lực của cấu kiện và kết cấu sau hỏa
hoạn (Ibrahim và cộng sự, 2025 [10]; Alaskar và cộng sự, 2025 [26]).
3.Phương pháp đánh giá kết cấu sau hỏa hoạn (Assessment
methods)
3.1. Mục tiêu đánh giá sau cháy
Đánh giá kết cấu sau hỏa hoạn nhằm xác định mức độ hư hỏng
thực tế của vật liệu và cấu kiện, bao gồm bê tông, cốt thép và vùng liên
kết giữa chúng. Trên cơ sởđó, quá trình đánh giá cho phép xác định
khảnăng chịu lực còn lại của kết cấu sau khi chịu tác động của nhiệt
độ cao, đồng thời nhận diện các nguy cơ mất an toàn có thểtiếp tục
phát sinh trong giai đoạn khai thác sau cháy.
Ngoài ra, đánh giá sau cháy còn là cơ sở kỹthuật quan trọng để
lựa chọn phương án xửlý phù hợp, như tiếp tục sử dụng, sửa chữa, gia
cường hoặc tháo dỡthay thếcông trình. Vì vậy, mục tiêu của công tác
này không chỉ dừng ởviệc nhận diện hư hỏng mà còn hướng tới hỗtrợ
ra quyết định kỹthuật và quản lý an toàn công trình một cách khoa học
và hiệu quả.
3.2.Các phương pháp đánh giá kết cấu sau hỏa hoạn trên thếgiới
Trên thếgiới, đánh giá kết cấu sau hỏa hoạn thường được thực
hiện theo hướng kết hợp nhiều phương pháp để nâng cao độ tin cậy
của kết luận kỹthuật. Các nghiên cứu cho thấy quá trình này thường
bắt đầu bằng khảo sát trực quan hiện trường nhằm nhận diện nứt, bong
tróc, đổi màu bê tông, lộ cốt thép và biến dạng dư; sau đó kết hợp các
phương pháp không phá hủy như súng bật nẩy, siêu âm xung, radar
xuyên đất hoặc các kỹthuật chẩn đoán hiện trường khác; cuối cùng sử
dụng các phương pháp bán phá hủy hoặc phá hủy cục bộ như khoan
lõi và thí nghiệm nén mẫu lõi đểxác định đáng tin cậy hơn cường độ
còn lại của bê tông sau cháy [27]–[30].
Bên cạnh đó, một sốnghiên cứu còn phát triển phương pháp
đánh giá nhanh cường độdư dựa trên mối tương quan giữa kết quảthí
nghiệm không phá hủy và mức suy giảm sức kháng của cấu kiện sau
cháy. Hướng tiếp cận này đặc biệt hữu ích trong giai đoạn kiểm định
ban đầu hoặc khi cần đánh giá nhanh trên diện rộng, nhưng vẫn cần
được kiểm chứng bằng các phép thửtrực tiếp tại những vịtrí nghi ngờ
hư hỏng nặng (Alcaíno và cộng sự, 2020 [31]).
Liên hệ với điều kiện Việt Nam, các nhóm phương pháp nêu trên
có thểđối chiếu với hệthống tiêu chuẩn hiện hành như TCVN
9343:2012 vềBê tông nặng – Phương pháp xác định cường độnén bằng
súng bật nẩy (năm 2012), TCVN 12252:2020 cho khoan lõi và xác định
cường độbê tông, cùng với TCVN 9356:2012, TCVN 13536:2022 và
TCVN 13537:2024 cho các phương pháp điện từ và siêu âm. Vì vậy,
bảng đối chiếu “phương pháp quốc tế–tiêu chuẩn Việt Nam tương
ứng” là cơ sởphù hợp đểchuyển hóa các phương pháp đánh giá trên
thếgiới thành cách tiếp cận có thểáp dụng trong thực tiễn Việt Nam.
Trên cơ sở các nhóm phương pháp đánh giá nêu trên và hệthống tiêu
chuẩn hiện hành có thểáp dụng ởViệt Nam, quá trình đánh giá kết cấu
sau cháy cần được tổchức theo một trình tự hợp lý, từkhảo sát sơ bộ
hiện trường, lựa chọn phương pháp kiểm tra phù hợp, đến phân tích
khảnăng chịu lực còn lại và đềxuất giải pháp xửlý. Quy trình này sẽ
được trình bày trong mục tiếp theo.
3.3.Quy trình đánh giá sau cháy
Quy trình đánh giá kết cấu sau cháy thường được thực hiện theo
trình tự từkhảo sát hiện trường, xác định mức độhư hỏng, lựa chọn
phương pháp kiểm tra phù hợp, đến phân tích khảnăng chịu lực còn
lại của cấu kiện và kết cấu. Ở bước đầu, cần kiểm tra sơ bộ mức độ an
toàn của công trình, nhận diện các dấu hiệu hư hỏng như nứt, bong
tróc, lộ cốt thép, đổi màu bê tông và biến dạng dư để phân vùng khu
vực bị ảnh hưởng nhiệt.
Sau đó, tùy theo mức độhư hỏng quan sát được, tiến hành kết
hợp các phương pháp đánh giá thích hợp như thí nghiệm không phá
hủy, khoan lõi, kiểm tra cốt thép hoặc các phân tích chuyên sâu khác
nhằm xác định mức suy giảm tính chất vật liệu và khảnăng làm việc
còn lại của cấu kiện. Trên cơ sở kết quảkiểm tra, cần đánh giá lại khả
năng chịu lực của kết cấu để đưa ra quyết định kỹthuật phù hợp, bao
gồm tiếp tục sử dụng, sửa chữa cục bộ, gia cường hoặc tháo dỡthay
thếcông trình. Quy trình này bảo đảm việc đánh giá sau cháy được
thực hiện một cách hệ thống, khách quan và có cơ sở kỹthuật.
3.4.Định hướng phục hồi kết cấu sau hỏa hoạn
Sau khi đánh giá mức độhư hỏng và khảnăng chịu lực còn lại,
cần lựa chọn phương án xửlý phù hợp cho kết cấu bê tông cốt thép
sau hỏa hoạn. Tùy theo mức độ ảnh hưởng của nhiệt đến bê tông, cốt
thép và liên kết giữa chúng, công trình có thểđược tiếp tục sử dụng,
sửa chữa cục bộ, gia cường hoặc tháo dỡthay thế.
Đối với các hư hỏng bề mặt như bong tróc lớp bê tông bảo vệ,
nứt cục bộ hoặc suy giảm nhẹ lớp ngoài, giải pháp thường áp dụng là
loại bỏphần bê tông hư hỏng, làm sạch cốt thép, xửlý chống gỉvà sửa
chữa bằng vữa hoặc bê tông chuyên dụng. Trong trường hợp cấu kiện
bị suy giảm đáng kểkhả năng chịu lực, có thểáp dụng các biện pháp
gia cường như bọc bê tông cốt thép, bọc thép hoặc sử dụng vật liệu
composite FRP nhằm phục hồi hoặc nâng cao khảnăng làm việc của
cấu kiện.
Việc lựa chọn giải pháp phục hồi cần dựa trên kết quảđánh giá
sau cháy, bao gồm mức độsuy giảm cơ tính của vật liệu, chiều sâu vùng
bê tông hư hỏng, tình trạng cốt thép và yêu cầu khai thác của công
trình. Do đó, đánh giá và phục hồi là hai bước có quan hệchặt chẽ,
trong đó độchính xác của công tác đánh giá quyết định hiệu quảvà độ
tin cậy của phương án xửlý kết cấu sau hỏa hoạn.
4. Kết luận
và định hướng phục hồi kết cấu bê tông cốt thép sau hỏa hoạn. Kết quả
tổng hợp cho thấy, dưới tác động của nhiệt độcao, bê tông xảy ra đồng
thời các biến đổi vật lý, hóa học và cơ học như bay hơi nước, phân hủy
các sản phẩm thủy hóa, hình thành vi nứt, suy giảm cường độ, mô đun
đàn hồi và khả năng bám dính với cốt thép. Đặc biệt, hiện tượng bong
tróc bê tông và sựkhông đồng nhất của mức độhư hỏng theo chiều sâu
tiết diện là những yếu tốquan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khảnăng
chịu lực còn lại của cấu kiện.
Các phương pháp đánh giá sau cháy cần được thực hiện theo
hướng kết hợp giữa khảo sát trực quan, thí nghiệm không phá hủy,
khoan lõi, thí nghiệm trong phòng và phân tích kết cấu. Việc đối chiếu
các phương pháp quốc tế với hệthống tiêu chuẩn Việt Nam cho thấy
có thểxây dựng một quy trình đánh giá phù hợp với điều kiện thực
tiễn trong nước. Tuy nhiên, công tác đánh giá và phục hồi kết cấu sau
hỏa hoạn tại Việt Nam vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt về
xác định chiều sâu vùng bê tông hư hỏng, đánh giá liên kết bê tông –
cốt thép và ứng dụng công nghệ số, trí tuệnhân tạo trong chẩn đoán
hư hỏng. Đây là cơ sởquan trọng để nâng cao độtin cậy trong quyết
định sửa chữa, gia cường hoặc thay thế kết cấu sau cháy.