Tài Liệu

TCVN 3120:2022 Bê tông – Phương pháp xác định cường độ chịu kéo khi bửa

giá nhà khung thép - Quy Trình Giá Nhà Khung Thép Chi Tiết 2026
2 lượt xem Kiểm định Xây dựng Kiểm định Xây dựng

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 3120:2022

BÊ TÔNG – PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ CHỊU KÉO KHI BỬA

Hardened concrete – Test method for splitting tensile strength

Lời nói đầu

TCVN 3120:2022 thay thế TCVN 3120:1993.

TCVN 3120:2022 được xây dựng trên cơ sở tham khảo GOST 10180-2012, Concretes – Methods for strength determination using reference specimens.

TCVN 3120:2022 do Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng biên soạn, Bộ Xây dựng đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

 

BÊ TÔNG – PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ CHỊU KÉO KHI BỬA

Hardened concrete – Test method for splitting tensile strength

1  Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định cường độ chịu kéo khi bửa của bê tông.

Tiêu chuẩn này không áp dụng để xác định cường độ chịu kéo khi bửa của các loại bê tông có tiêu chuẩn quy định riêng.

2  Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau đây là cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).

TCVN 3105:2022, Hỗn hợp bê tông và bê tông – Lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử.

TCVN 3118:2022, Bê tông – Phương pháp xác định cường độ chịu nén.

3  Thiết bị, dụng cụ

3.1  Máy nén đáp ứng các quy định nêu trong 3.1, TCVN 3118:2022.

3.2  Gối truyền tải (sử dụng cho mẫu lập phương hoặc lăng trụ) được làm bằng thép với tiết diện là cung của đường tròn bán kính 75 mm và có chiều dài bằng kích thước cạnh của viên mẫu lập phương hoặc lăng trụ. Chiều cao của gối gia tải không nhỏ hơn 0,4 lần kích thước của mẫu.

3.3  Tấm đệm làm bằng gỗ dán nhiều lớp hoặc bìa cứng có chiều dài ít nhất bằng kích thước cạnh của mẫu lập phương, lăng trụ hoặc chiều cao của mẫu trụ, chiều rộng bằng (15 ± 2) mm và chiều dày bằng (4 ± 1) mm. Mỗi tấm đệm bìa cứng chỉ sử dụng một lần, đệm gỗ dán sử dụng hai lần.

4  Lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử

4.1  Lấy mẫu

Lấy mẫu xác định cường độ chịu kéo khi bửa theo tổ mẫu. Mỗi tổ mẫu gồm 3 viên được chuẩn bị theo TCVN 3105:2022.

CHÚ THÍCH: Lấy mẫu xác định cường độ chịu kéo khi bửa từ kết cấu và cầu kiện thực hiện theo quy trình riêng.

4.2  Chuẩn bị mẫu

4.2.1  Mẫu thử xác định cường độ chịu kéo khi bửa phải đảm bảo các yêu cầu về sai số hình dạng và kích thước mẫu như quy định trong Điều 6, TCVN 3105:2022.

4.2.2  Không sử dụng viên mẫu có khuyết tật sau để xác định cường độ chịu kéo khi bửa:

– Vết nứt, mất cạnh với chiều sâu lớn hơn 10 mm;

– Vết rỗ với chiều rộng lớn hơn 10 mm và chiều sâu lớn hơn 5 mm;

– Có dấu hiệu phân tầng hoặc không được đầm chặt.

4.3.3  Phần bê tông thừa ở cạnh viên mẫu cần được loại bỏ bằng đá mài.

a) Mu trụ

b) Mu lập phương

c) Mẫu lăng trụ

 

CHÚ DN:  
1 Mu thử 4 Khớp cầu
2 Gối truyền tải cho mẫu trụ (thớt trên máy nén) 5 Gối cầu phụ để đỡ mẫu
3 Gối truyền tải cho mẫu lập phương, mẫu lăng trụ 6 Thớt dưới máy nén
a – Kích thước cạnh tiết diện mẫu lăng trụ d – Đường kính mẫu trụ
I – chiều cao mẫu trụ P – Tải trọng tác dụng

Hình 1 – Sơ đồ thí nghiệm xác định cường độ chịu kéo khi bửa

5  Cách tiến hành

5.1  Các viên mẫu trong cùng tổ mẫu phải được thử ở tuổi quy định và cả tổ đó phải được thử xong trong vòng 1 h.

5.2  Loại bỏ các vết bẩn trên bề mặt của tấm nén, đệm truyền tải và viên mẫu ở các phần sẽ tiếp xúc nhau khi thử.

5.3  Kẻ các đường đặt lực trên mẫu như sau:

– Trên hai mặt cạnh đối diện nhau của mẫu lập phương, kẻ hai đường trung bình vuông góc với mặt hở khi đổ bê tông;

– Trên hai mặt cạnh đối diện nhau của mẫu lăng trụ, tại vị trí cách đầu mẫu một khoảng bằng một nửa kích thước chiều rộng, kẻ hai đường vuông góc với mặt hở khi đổ bê tông;

– Trên mẫu trụ, kẻ hai đường sinh nằm trên mặt phẳng đi qua trục của mẫu.

5.4  Xác định diện tích chịu lực của viên mẫu bằng cách:

– Đo chiều dài hai đường đặt lực, chính xác đến 1 mm. Chiều dài đường đặt lực được tính bằng trung bình cộng hai giá trị đo được;

– Đo khoảng cách giữa hai đường đặt lực theo hai mặt cạnh còn lại, chính xác tới 1 mm. Khoảng cách giữa hai đường đặt lực được tính bằng trung bình cộng hai giá trị đo được;

– Diện tích chịu lực (diện tích của hình giới hạn bởi hai đường đặt lực và hai đường khoảng cách nối hai đường đặt lực) được tính chính xác đến 1 mm2.

CHÚ THÍCH: Nếu có tài liệu chứng minh mẫu được đúc trong khuôn đốp ứng các yêu cầu như quy định trong 4.1, TCVN 3105:2022 thì cho phép lấy kích thước của mẫu bằng kích thước danh nghĩa của khuôn.

5.5  Xác định tải trọng phá hủy viên mẫu

5.5.1  Chọn thang lực thích hợp của máy để khi nén tải trọng phá hủy nằm trong khoảng từ 20 % đến 80 % tải trọng cực đại của thang lực nén đã chọn.

5.5.2  Đặt mẫu vào máy nén sao cho:

– Trục của các gối truyền tải bên dưới trùng với một đường đặt lực đã kẻ trên mẫu lập phương hoặc lăng trụ (sơ đồ Hình 1b và Hình 1c);

– Đường đặt lực của mẫu trụ đi qua tâm của thớt nén dưới (sơ đồ Hình 1a).

Để đảm bảo truyền lực đều lên mẫu, đặt tấm đệm giữa gối truyền tải và mẫu lập phương hoặc lăng trụ; hoặc giữa thớt nén và mẫu trụ.

5.5.3  Vận hành máy sao cho gối truyền tải bên trên nhẹ nhàng tiếp xúc với đường đặt lực trên mặt mẫu lập phương hoặc lăng trụ, thớt nén trên tiếp xúc với đường đặt lực còn lại của mẫu trụ. Tăng tải liên tục với vận tốc không đổi bằng (0,05 ± 0,01) MPa/s cho tới khi viên mẫu bị phá hủy. Thời gian gia tải mẫu cho đến khi phá hủy không nhỏ hơn 30 s.

CHÚ THÍCH: Với bê tông cường độ thấp, thời gian gia tải có thể nhỏ hơn 30 s.

5.5.4  Nếu bề mặt phá hủy của mẫu nghiêng quá 15° so với chiều thẳng đứng thì loại bỏ kết quả của viên mẫu này.

CHÚ THÍCH: Bề mặt phá Hủy có thể bị lệch so với trục thẳng đứng do sai lệch khi đặt mẫu.

6  Biểu thị kết quả

6.1  Cường độ chịu kéo khi bửa của viên mẫu (R), tính bằng megapascan (MPa), chính xác đến 0,1 MPa, được tính theo công thức

(1)

trong đó:

P là tải trọng phá hủy viên mẫu, tính bằng niutơn (N);

A là diện tích tiết diện chịu kéo khi bửa của viên mẫu, tính bằng milimét vuông (mm2);

π là hằng số, lấy bằng 3,1416;

αkb là hệ số chuyển đổi kết quả thử xác định trên mẫu khác mẫu chuẩn về cường độ chịu kéo khi bửa của mẫu chuẩn (mẫu lập phương kích thước 150 mm x 150 mm x 150 mm). Hệ số αkb được xác định bằng thực nghiệm theo quy trình tại Phụ lục B, TCVN 3118:2022 hoặc lấy theo Bảng 1.

CHÚ THÍCH: Quy trình tại Phụ lục B, TCVN 3118:2022 cũng có thể áp dụng để chuyển đổi cường độ chịu kéo khi bửa về các loại cường độ khác.

Bảng 1 – Hệ số chuyển đổi kết quả thử xác định trên các mẫu khác mẫu chuẩn

Hình dạng mẫu

Kích thước mẫu,

mm

Hệ số αkb

Bê tông thông thường

Bê tông hạt nhỏ

Mẫu lập phương hoặc lăng trụ

70 x 70 70

0,78

0,87

100 x 100 x 100

0,88

0,92

150 x 150 x 150

1,00

1,00

200 x 200 x 200

1,10

1,05

Mẫu trụ

100 x 200

0,98

0,99

150 x 300

1,13

1,08

CHÚ THÍCH: Bê tông thông thường là bê tông cấu trúc đặc chắc có khối lượng thể tích từ 2 200 kg/m3 đến 2 500 kg/m3, sử dụng cốt liệu đặc chắc.

6.2  Cường độ chịu kéo khi bửa của tổ mẫu được tính bằng trung bình cộng cường độ 3 viên mẫu trong tổ nếu giá trị lớn nhất và nhỏ nhất trong 3 giá trị cường độ viên mẫu không lệch quá 15 % so với giá trị cường độ còn lại.

Nếu giá trị lớn nhất hoặc nhỏ nhất trong 3 giá trị cường độ viên mẫu lệch quá 15 % so với giá trị cường độ viên mẫu còn lại thì không tính toán cường độ chịu kéo khi bửa của tổ mẫu.

7  Báo cáo thử nghiệm

Báo cáo thử nghiệm bao gồm ít nhất các thông tin sau:

a) Ngày lấy mẫu và ngày thử nghiệm;

b) Tên mẫu, ký hiệu mẫu;

c) Tuổi bê tông, điều kiện bảo dưỡng, trạng thái mẫu lúc thử;

d) Kích thước, diện tích chịu lực của viên mẫu;

e) Tải trọng phá hủy, góc của bề mặt phá hủy so với chiều thẳng đứng;

f) Cường độ chịu kéo khi bửa của từng viên mẫu và cường độ chịu kéo khi bửa của tổ mẫu;

g) Viện dẫn tiêu chuẩn này;

h) Người thử nghiệm.

 

Mục lục

Lời nói đầu

1  Phạm vi áp dụng

2  Tài liệu viện dẫn

3  Thiết bị, dụng cụ

4  Lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử

5  Cách tiến hành

6  Biểu thị kết quả

 Báo cáo thử nghiệm

 

Hoàn thiện quy trình thí nghiệm và tính toán kết quả cường độ chịu kéo khi bửa

Phần nội dung phía trên đã hướng dẫn bạn cách chuẩn bị mẫu, xác định diện tích chịu lực và thiết lập hệ thống gia tải. Tuy nhiên, để có được kết quả cuối cùng phản ánh chính xác chất lượng bê tông, quá trình gia tải và tính toán toán học đóng vai trò then chốt. Với tư cách là những chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thử nghiệm vật liệu, chúng tôi sẽ chia sẻ chi tiết phần còn lại của quy trình kỹ thuật này.

Sau khi đã xác định được diện tích chịu lực (A) của viên mẫu, kỹ thuật viên sẽ tiến hành đưa mẫu vào máy nén. Quá trình gia tải phải được thực hiện liên tục, đều đặn và không được gây ra bất kỳ chấn động nào. Tốc độ gia tải là một thông số cực kỳ quan trọng. Nếu gia tải quá nhanh, bê tông sẽ không kịp biến dạng dẻo, dẫn đến kết quả cường độ đo được cao hơn thực tế. Ngược lại, nếu gia tải quá chậm, hiện tượng từ biến (creep) vi mô có thể xảy ra, làm giảm giá trị cường độ đo được. Thông thường, tải trọng được tăng dần cho đến khi viên mẫu bị phá hoại hoàn toàn (bửa đôi).

Khi mẫu bị phá hoại, máy nén sẽ ghi nhận lại giá trị tải trọng phá hoại lớn nhất (P), tính bằng Newton (N) hoặc Kilonewton (kN). Lúc này, cường độ chịu kéo khi bửa của từng viên mẫu được xác định dựa trên nguyên lý cơ học của bài toán nén chẻ (hay còn gọi là thí nghiệm Brazilian). Công thức tính toán cơ bản dựa trên sự phân bố ứng suất kéo đều trên mặt phẳng thẳng đứng đi qua tâm mẫu:

Cường độ chịu kéo khi bửa (f_ct) được tính bằng tỷ lệ giữa hai lần tải trọng phá hoại (2P) chia cho tích của số Pi (π) và diện tích mặt cắt chịu lực (A). Kết quả cuối cùng của tổ mẫu là giá trị trung bình cộng của 3 viên mẫu, với điều kiện sai lệch giữa các viên không vượt quá ngưỡng cho phép theo quy định của tiêu chuẩn viện dẫn.

Việc tính toán này đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối. Bất kỳ sai số nào trong việc đọc chỉ số tải trọng P hay đo đạc diện tích A đều dẫn đến những đánh giá sai lệch về năng lực chịu lực của kết cấu bê tông cốt thép.

Kinh nghiệm thực tế tại phòng LAB: Những sai sót thường gặp và cách khắc phục

Trong thực tế vận hành phòng thí nghiệm LAS, chúng tôi nhận thấy rằng lý thuyết trên giấy và thực hành có những khoảng cách nhất định. Dưới đây là những lưu ý chuyên sâu mà các kỹ thuật viên của chúng tôi luôn tuân thủ nghiêm ngặt để đảm bảo tính toàn vẹn của kết quả thí nghiệm:

  • Sai số do lệch tâm mẫu thử: Đây là lỗi phổ biến nhất. Khi đường đặt lực không đi qua chính xác tâm hình học của mẫu trụ hoặc mẫu lập phương, ứng suất kéo sẽ không phân bố đều. Thay vì nứt đôi thẳng tắp qua tâm, mẫu sẽ bị phá hoại do ứng suất cắt cục bộ tại mép. Để khắc phục, chúng tôi luôn sử dụng các bộ gá định tâm (alignment jig) chuyên dụng bằng kim loại để kẹp chặt viên mẫu và tấm đệm trước khi đưa vào máy nén.
  • Tình trạng của tấm đệm truyền tải: Như tiêu chuẩn đã nêu, tấm đệm bìa cứng chỉ dùng một lần và đệm gỗ dán dùng tối đa hai lần. Lý do là sau mỗi lần chịu tải trọng nén cực lớn, cấu trúc sợi của bìa cứng hoặc gỗ dán bị nén chặt, mất đi tính đàn hồi ban đầu. Nếu tái sử dụng quá số lần quy định, tấm đệm sẽ trở nên cứng như thép, tạo ra ứng suất tập trung tại đường tiếp xúc thay vì phân bố đều, làm giảm giả tạo cường độ kéo khi bửa đo được.
  • Ảnh hưởng của độ ẩm mẫu thử: Bê tông ở trạng thái bão hòa nước thường cho kết quả cường độ chịu kéo khi bửa thấp hơn so với bê tông ở trạng thái khô tự nhiên. Nước trong các mao quản rỗng tạo ra áp lực thủy tĩnh khi bị nén, thúc đẩy quá trình phát triển vết nứt nhanh hơn. Do đó, việc bảo dưỡng và điều kiện lưu kho mẫu trước khi thử nghiệm phải được ghi chép rõ ràng trong biên bản.
  • Kiểm tra khớp cầu của máy nén: Sơ đồ thí nghiệm có đề cập đến “khớp cầu”. Thiết bị này giúp thớt trên của máy nén tự động điều chỉnh góc nghiêng nhỏ để tiếp xúc hoàn toàn phẳng với bề mặt mẫu, dù bề mặt đó có thể không hoàn toàn song song tuyệt đối. Kỹ thuật viên phải đảm bảo khớp cầu hoạt động trơn tru, không bị rỉ sét hay kẹt cứng trước mỗi ca thí nghiệm.

Ý nghĩa của cường độ chịu kéo khi bửa trong công tác đánh giá kết cấu

Nhiều người thường thắc mắc: Bê tông là vật liệu chịu nén, vậy tại sao chúng ta lại phải tốn công xác định cường độ chịu kéo? Câu trả lời nằm ở bản chất giòn của bê tông. Cường độ chịu kéo của bê tông chỉ bằng khoảng 1/10 đến 1/15 cường độ chịu nén của chính nó. Tuy nhiên, chính sự yếu kém này lại là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hư hỏng kết cấu.

Khi tiến hành đánh giá an toàn công trình, các kỹ sư của chúng tôi đặc biệt quan tâm đến khả năng chịu kéo của bê tông vì những lý do sau:

  1. Kiểm soát nứt do co ngót và nhiệt: Trong quá trình thủy hóa, bê tông sinh nhiệt và co ngót. Nếu ứng suất kéo nội tại sinh ra do sự ngăn cản biến dạng vượt quá cường độ chịu kéo khi bửa, vết nứt sẽ xuất hiện. Biết được chính xác thông số này giúp các kỹ sư thiết kế đưa ra giải pháp bố trí cốt thép chống nứt hợp lý.
  2. Đánh giá khả năng chịu cắt: Trong các cấu kiện như dầm, sàn, bản bụng của cầu, phá hoại do cắt thực chất là phá hoại do ứng suất kéo chéo (diagonal tension). Cường độ chịu kéo khi bửa là thông số đầu vào quan trọng để tính toán khả năng chịu cắt của bê tông khi chưa có cốt đai.
  3. Phân tích độ bền mỏi và va chạm: Đối với các kết cấu chịu tải trọng động như sàn nhà xưởng công nghiệp hoặc mặt đường sân bay, khả năng kháng lại sự lan truyền vết nứt dưới tải trọng lặp phụ thuộc trực tiếp vào cường độ chịu kéo của vật liệu nền.

So sánh phương pháp kéo khi bửa với các phương pháp xác định cường độ kéo khác

Trong cơ học bê tông, có ba phương pháp chính để xác định cường độ chịu kéo. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và phục vụ những mục đích phân tích khác nhau. Bảng so sánh dưới đây được chúng tôi tổng hợp dựa trên kinh nghiệm thực tế:

Tiêu chí so sánh Kéo khi bửa (Splitting Tensile) Kéo trực tiếp (Direct Tensile) Kéo khi uốn (Flexural Tensile)
Bản chất thí nghiệm Nén chẻ mẫu trụ/lập phương tạo ứng suất kéo ngang. Kéo giãn mẫu hình số 8 hoặc mẫu trụ có đầu phình. Uốn mẫu dầm bê tông (thường là 150x150x600mm) trên 2 gối tựa.
Độ khó thực hiện Trung bình. Dễ kẹp mẫu, sử dụng máy nén thông thường. Rất khó. Đòi hỏi thiết bị kẹp chuyên dụng, dễ gây lệch tâm. Dễ dàng. Thực hiện trên máy nén có bộ gá uốn.
Phân bố ứng suất Ứng suất kéo phân bố tương đối đều trên toàn bộ mặt cắt thẳng đứng. Ứng suất kéo phân bố đều trên mặt cắt ngang nhỏ nhất. Ứng suất kéo chỉ tập trung ở thớ dưới cùng của dầm.
Giá trị cường độ thu được Cao hơn kéo trực tiếp, thấp hơn kéo khi uốn. Thấp nhất. Phản ánh đúng nhất cường độ kéo thực của vật liệu. Cao nhất. Do hiệu ứng kích thước và sự phân bố lại ứng suất khi nứt.
Ứng dụng thực tế Phổ biến nhất trong kiểm định chất lượng, đánh giá khả năng chịu cắt. Ít dùng, chủ yếu trong nghiên cứu chuyên sâu về cơ học phá hoại. Đánh giá chất lượng bê tông mặt đường, sàn công nghiệp chịu uốn.

Như vậy, phương pháp kéo khi bửa là sự cân bằng hoàn hảo giữa tính chính xác khoa học và khả năng thực thi dễ dàng tại hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm. Đây là lý do tiêu chuẩn quốc gia lựa chọn phương pháp này làm chuẩn mực đánh giá.

Các yếu tố vật liệu ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm kéo khi bửa

Khi thực hiện các dự án kiểm định chung cư cũ hoặc đánh giá chất lượng bê tông cốt thép, chúng tôi nhận thấy kết quả thí nghiệm kéo khi bửa chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các thành phần cấp phối bê tông:

  • Loại cốt liệu thô (Đá dăm/Sỏi): Bê tông sử dụng đá dăm có bề mặt nhám, góc cạnh thường cho cường độ chịu kéo khi bửa cao hơn so với bê tông dùng sỏi tròn nhẵn. Lý do là lực bám dính cơ học giữa đá dăm và vữa xi măng tốt hơn, cản trở sự trượt và phát triển vết nứt tại vùng tiếp giáp (vùng chuyển tiếp ITZ).
  • Kích thước cốt liệu lớn nhất (Dmax): Việc tăng kích thước hạt cốt liệu lớn nhất thường làm giảm cường độ chịu kéo khi bửa. Các hạt đá lớn tạo ra các vùng tập trung ứng suất và các khuyết tật vi mô lớn hơn trong khối bê tông, làm vết nứt dễ dàng lan truyền hơn khi chịu lực kéo.
  • Tỷ lệ Nước/Xi măng (N/X): Tương tự như cường độ chịu nén, tỷ lệ N/X càng thấp thì cường độ chịu kéo khi bửa càng cao. Tuy nhiên, mức độ suy giảm cường độ kéo do tăng tỷ lệ N/X thường diễn ra nhanh hơn so với cường độ nén.
  • Phụ gia khoáng hoạt tính: Việc bổ sung tro bay, xỉ lò cao hoặc silica fume giúp cải thiện cấu trúc vùng ITZ, làm đặc chắc khối bê tông và từ đó nâng cao đáng kể cường độ chịu kéo khi bửa ở tuổi dài ngày.

Câu hỏi thường gặp (FAQ) về thí nghiệm kéo khi bửa bê tông

Trong quá trình tư vấn và thực hiện dịch vụ, chúng tôi thường xuyên nhận được những câu hỏi từ các chủ đầu tư và kỹ sư giám sát. Dưới đây là giải đáp chi tiết cho 6 câu hỏi phổ biến nhất:

Câu hỏi 1: Có thể sử dụng phương pháp kéo khi bửa cho mẫu bê tông khoan rút lõi từ kết cấu thực tế không?
Trả lời: Hoàn toàn có thể. Đây là một trong những ứng dụng quan trọng nhất của phương pháp này. Khi không thể đúc mẫu tiêu chuẩn, chúng tôi khoan lấy mẫu trụ từ dầm, cột hoặc sàn. Mẫu khoan rút lõi có hình dáng trụ tròn rất lý tưởng cho thí nghiệm kéo khi bửa, giúp đánh giá chính xác cường độ thực tế của bê tông trong kết cấu.

Câu hỏi 2: Tại sao tiêu chuẩn lại quy định sử dụng tấm đệm bằng gỗ dán hoặc bìa cứng thay vì đặt trực tiếp mẫu lên thớt thép?
Trả lời: Bê tông có cường độ chịu nén cục bộ thấp hơn thép. Nếu đặt trực tiếp lên thớt thép, ứng suất tập trung tại đường tiếp xúc (dạng đường thẳng) sẽ làm bê tông bị nghiền nát cục bộ trước khi ứng suất kéo đủ lớn để bửa đôi mẫu. Tấm đệm có tác dụng phân bố lại tải trọng, tạo ra một dải chịu nén nhỏ, từ đó sinh ra trường ứng suất kéo đồng đều bên trong mẫu.

Câu hỏi 3: Nếu sau khi nén, viên mẫu bị vỡ nát nhiều mảnh thay vì nứt đôi thẳng tắp, kết quả đó có được chấp nhận không?
Trả lời: Không được chấp nhận. Hiện tượng vỡ nát chứng tỏ quá trình gia tải đã gây ra phá hoại do nén cục bộ hoặc cắt, không phải do kéo khi bửa. Nguyên nhân có thể do đặt mẫu lệch tâm nghiêm trọng, tấm đệm quá cứng hoặc quá mỏng, hoặc tốc độ gia tải quá nhanh. Viên mẫu này phải bị loại bỏ và tiến hành thử lại trên viên mẫu dự phòng.

Câu hỏi 4: Sự khác biệt lớn nhất của phiên bản TCVN 3120:2022 so với phiên bản cũ năm 1993 là gì?
Trả lời: Phiên bản mới được xây dựng dựa trên sự tham khảo hài hòa với tiêu chuẩn GOST 10180-2012 của Nga. Những thay đổi chủ yếu nằm ở việc cập nhật các yêu cầu khắt khe hơn về sai số hình học của mẫu thử, quy định chi tiết hơn về vật liệu và kích thước của gối truyền tải, cũng như đồng bộ hóa các tài liệu viện dẫn với hệ thống tiêu chuẩn quốc gia mới nhất hiện hành.

Câu hỏi 5: Cường độ chịu kéo khi bửa có thể dùng để thay thế hoàn toàn cường độ chịu nén trong thiết kế không?
Trả lời: Không thể. Mặc dù có mối tương quan toán học giữa cường độ chịu kéo khi bửa và cường độ chịu nén (thường cường độ kéo bằng khoảng 10-15% cường độ nén), nhưng bản chất phá hoại là khác nhau. Thiết kế kết cấu bê tông cốt thép chủ yếu dựa vào cường độ chịu nén của bê tông và cường độ chịu kéo của cốt thép. Cường độ chịu kéo khi bửa chỉ được dùng cho các tính toán đặc thù như chống nứt, chịu cắt hoặc đánh giá độ bền mỏi.

Câu hỏi 6: Làm thế nào để đảm bảo tính khách quan khi thử nghiệm các mẫu bê tông có cường độ rất cao (trên 60 MPa)?
Trả lời: Đối với bê tông cường độ cao, tính giòn tăng lên đáng kể. Khi phá hoại, năng lượng giải phóng rất lớn có thể gây nguy hiểm và làm sai lệch chỉ số trên đồng hồ đo. Chúng tôi sử dụng các máy nén thủy lực có độ cứng khung máy cao, hệ thống điều khiển vòng kín (closed-loop) để kiểm soát tốc độ biến dạng thay vì chỉ kiểm soát tải trọng, đồng thời sử dụng các tấm đệm có độ cứng phù hợp hơn để tránh hiện tượng nổ mẫu đột ngột.

Kết luận và Giải pháp Kiểm Định Chuyên Nghiệp

Việc nắm vững và áp dụng chính xác TCVN 3120:2022 là nền tảng không thể thiếu để đánh giá toàn diện chất lượng vật liệu bê tông. Không chỉ dừng lại ở các con số trên giấy tờ, việc hiểu rõ bản chất cơ học, các yếu tố ảnh hưởng và kinh nghiệm thực tế trong phòng thí nghiệm mới mang lại những đánh giá sát thực nhất về độ an toàn và tuổi thọ của công trình.

Tại Kiểm Định Xây Dựng Miền Nam, chúng tôi tự hào sở hữu hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc gia cùng đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm. Chúng tôi không chỉ cung cấp các báo cáo thí nghiệm vật liệu chính xác, mà còn đưa ra những tư vấn chuyên sâu về giải pháp xử lý kết cấu khi phát hiện các bất thường về cường độ bê tông.

Nếu bạn đang có nhu cầu kiểm định chất lượng công trình, thử nghiệm vật liệu xây dựng hoặc cần tư vấn về các tiêu chuẩn kỹ thuật, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng và chuyên nghiệp nhất.

Hotline tư vấn 24/7: 0868.393.098

Chia sẻ:

Bài viết liên quan

Zalo
Hãy để chúng tôi phục vụ bạn
Hotline: 0868.393.098