Kiểm định Xây dựng
Việc áp dụng tiêu chuẩn TCVN 9335:2012 mang lại giải pháp tối ưu và khoa học nhất cho bài toán xác định cường độ nén bê tông tại hiện trường mà không cần phải phá hoại kết cấu công trình. Trong ngành xây dựng, bê tông là vật liệu nền tảng chịu lực chính, do đó việc kiểm soát và đánh giá chính xác chất lượng của nó sau khi thi công là yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, không phải lúc nào các phương pháp truyền thống như khoan lấy mẫu cũng có thể thực hiện được do những ràng buộc về kỹ thuật, thẩm mỹ hoặc an toàn. Đây chính là lúc phương pháp kết hợp giữa máy siêu âm bê tông và súng bật nẩy phát huy tối đa giá trị của mình.
1. Tổng quan về phương pháp kết hợp siêu âm và súng bật nẩy
Trước khi đi sâu vào quy trình kỹ thuật, chúng ta cần hiểu rõ bối cảnh ra đời và phạm vi áp dụng của phương pháp này. Dựa trên nội dung gốc của tiêu chuẩn, chúng tôi xin trích dẫn nguyên văn các điều kiện áp dụng như sau:
Xác định cường độ nén bê tông bằng phương pháp kết hợp siêu âm bê tông & súng bật nẩy được áp dụng sau :
- Khi không xây dựng được biểu đồ chuẩn dùng để xác định cường độ nén bằng phương pháp không phá hoại.
- Không có mẫu khoan lấy từ cấu kiện.
Download ⇒ TCVN 9335:2012 – Xác định cường độ nén sử dụng máy siêu âm BT và súng bật nẩy
Để làm rõ hơn hai điều kiện tiên quyết này, chúng tôi xin giải thích dưới góc độ chuyên môn. Thứ nhất, “biểu đồ chuẩn” (hay đường chuẩn) thường được xây dựng bằng cách đúc các mẫu bê tông có cùng cấp phối, cùng điều kiện bảo dưỡng với cấu kiện thực tế, sau đó đo bằng phương pháp không phá hoại và nén phá hoại mẫu để tìm ra mối tương quan. Trong thực tế kiểm định xây dựng, đặc biệt là với các công trình cũ đã xây dựng hàng chục năm, việc tìm lại hồ sơ cấp phối ban đầu là điều bất khả thi. Do đó, không thể xây dựng được biểu đồ chuẩn cho riêng phương pháp siêu âm đơn lẻ hoặc súng bật nẩy đơn lẻ.
Thứ hai, điều kiện “không có mẫu khoan lấy từ cấu kiện” xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Có thể do cấu kiện quá mỏng (như bản sàn, vách ngăn), nếu khoan lấy mẫu sẽ làm thủng và phá hủy khả năng chịu lực. Cũng có thể do yêu cầu bảo tồn kiến trúc, không cho phép đục đẽo, hoặc do vị trí cấu kiện nằm ở khu vực nguy hiểm, khó tiếp cận với máy khoan lõi. Trong những tình huống ngặt nghèo đó, phương pháp kết hợp theo TCVN 9335:2012 là cứu cánh duy nhất để đánh giá cường độ bê tông.
2. Nguyên lý khoa học của phương pháp kết hợp (SonReb)
Tại sao chúng ta phải kết hợp hai phương pháp lại với nhau thay vì sử dụng riêng lẻ? Câu trả lời nằm ở việc triệt tiêu sai số hệ thống. Mỗi phương pháp không phá hoại đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường và vật liệu theo những cách trái ngược nhau.
2.1. Nguyên lý của súng bật nẩy (Rebound Hammer)
Súng bật nẩy hoạt động dựa trên nguyên lý đo độ cứng bề mặt của bê tông. Khi một khối lượng va đập vào bề mặt bê tông với một năng lượng xác định, khoảng cách bật lại của khối lượng đó sẽ tỷ lệ thuận với độ cứng của bề mặt. Độ cứng bề mặt này lại có mối tương quan với cường độ nén của bê tông. Tuy nhiên, súng bật nẩy chỉ đo được lớp bê tông nông khoảng 20mm đến 30mm dưới bề mặt. Nó chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hiện tượng carbonat hóa (làm bề mặt cứng hơn, dẫn đến kết quả đo cao hơn thực tế) và độ ẩm bề mặt (bề mặt ướt cho trị số bật nẩy thấp hơn).
2.2. Nguyên lý của máy siêu âm bê tông (Ultrasonic Pulse Velocity – UPV)
Máy siêu âm đo vận tốc của sóng âm tần số cao (thường là sóng dọc P-wave) truyền qua khối bê tông. Vận tốc này phụ thuộc vào mật độ, tính đàn hồi và độ đồng nhất của vật liệu. Bê tông có cường độ cao, đặc chắc sẽ truyền âm nhanh hơn bê tông rỗng, cường độ thấp. Khác với súng bật nẩy, siêu âm đo lường tính chất của toàn bộ khối bê tông trên đường truyền âm. Tuy nhiên, vận tốc siêu âm lại tăng lên khi bê tông bị ẩm ướt hoặc bão hòa nước, điều này trái ngược hoàn toàn với ảnh hưởng của độ ẩm lên súng bật nẩy.
2.3. Sự bù trừ sai số hoàn hảo
Khi kết hợp cả hai phương pháp, chúng ta tạo ra một hệ phương trình đa biến (thường được gọi là phương pháp SonReb). Nếu bê tông bị ẩm, trị số bật nẩy (R) sẽ giảm, nhưng vận tốc siêu âm (V) sẽ tăng. Khi đưa cả hai thông số R và V vào công thức tính toán của TCVN 9335:2012, sự sai lệch do độ ẩm gây ra sẽ tự động triệt tiêu lẫn nhau. Tương tự, nếu bề mặt bê tông bị carbonat hóa làm trị số R tăng giả tạo, thì vận tốc V vẫn phản ánh đúng bản chất lõi bên trong, giúp kết quả cuối cùng sát với thực tế hơn rất nhiều so với việc dùng đơn lẻ từng thiết bị.
3. Thiết bị sử dụng trong quá trình kiểm định
Để đảm bảo độ chính xác theo đúng tiêu chuẩn, các thiết bị sử dụng phải được kiểm định và hiệu chuẩn định kỳ tại các cơ quan có thẩm quyền, chẳng hạn như phòng thí nghiệm LAS được công nhận. Hệ thống thiết bị bao gồm:
- Súng bật nẩy (Schmidt Hammer): Thường sử dụng loại N với năng lượng va đập 2.207 J, phù hợp cho bê tông kết cấu thông thường. Trước mỗi ca làm việc, súng phải được kiểm tra trên đe chuẩn (anvil) để đảm bảo trị số bật nẩy nằm trong dải cho phép của nhà sản xuất.
- Máy đo vận tốc xung siêu âm: Bao gồm bộ phát xung, bộ thu tín hiệu, màn hình hiển thị thời gian truyền âm và cặp đầu dò (transducer) có tần số dao động riêng từ 40 kHz đến 60 kHz.
- Chất tiếp âm (Couplant): Do sóng âm tần số cao không truyền tốt qua không khí, cần có chất tiếp âm như mỡ bôi trơn, gel chuyên dụng hoặc bột nhão để lấp đầy khe hở giữa đầu dò và bề mặt bê tông.
- Thước kẹp điện tử hoặc thước thép: Dùng để đo chính xác khoảng cách giữa hai đầu dò siêu âm (chiều dài đường truyền âm), sai số đo chiều dài không được vượt quá 1%.
- Máy mài cầm tay: Dùng để xử lý bề mặt bê tông trước khi đo, loại bỏ lớp vữa trát, sơn phủ hoặc các điểm gồ ghề.
- Máy đo cốt thép (Cover meter): Thiết bị hỗ trợ cực kỳ quan trọng để xác định vị trí cốt thép bên trong, tránh đo siêu âm trùng vào đường truyền có cốt thép.
4. Quy trình kỹ thuật xác định cường độ nén chi tiết
Là những chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm thực chiến, chúng tôi luôn tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật để đảm bảo số liệu thu được là trung thực và đáng tin cậy nhất. Quy trình thực hiện theo TCVN 9335:2012 bao gồm các bước sau:
Bước 1: Khảo sát và chuẩn bị bề mặt
Bề mặt bê tông tại các vị trí đo phải được làm sạch, phẳng và nhẵn. Nếu cấu kiện có lớp vữa trát, lớp trát này bắt buộc phải được đục bỏ hoàn toàn để lộ ra lớp bê tông cốt thép gốc. Các vị trí rỗ tổ ong, nứt nẻ bề mặt cần được trám phẳng bằng vật liệu tương thích hoặc tránh đo trực tiếp lên đó. Sử dụng máy mài để tạo độ nhẵn cần thiết, giúp súng bật nẩy tiếp xúc vuông góc và đầu dò siêu âm áp sát hoàn toàn.
Bước 2: Bố trí lưới điểm đo
Tại mỗi vùng kiểm tra (ví dụ: một cột, một dầm hoặc một ô sàn), chúng tôi thiết lập một lưới các điểm đo. Khoảng cách giữa các điểm đo thường từ 200mm đến 300mm. Mỗi vị trí trên lưới sẽ là tâm của một vùng đo kết hợp. Điều quan trọng là phải dùng máy dò cốt thép để quét trước khu vực này. Các điểm đo siêu âm tuyệt đối không được nằm trên đường đi của cốt thép dọc hoặc cốt thép đai, vì vận tốc âm truyền trong thép (khoảng 5.900 m/s) nhanh hơn nhiều so với trong bê tông (khoảng 3.500 – 4.500 m/s), sẽ làm sai lệch kết quả nghiêm trọng.
Bước 3: Tiến hành đo bằng súng bật nẩy
Tại mỗi điểm đo, súng bật nẩy được đặt vuông góc với bề mặt bê tông. Chúng tôi thực hiện liên tục 16 lần bắn xung quanh điểm tâm. Trong quá trình bắn, cần lưu ý hướng bắn (hướng lên, hướng xuống hoặc nằm ngang) vì trọng lực sẽ ảnh hưởng đến lò xo của súng. Các thiết bị hiện đại ngày nay có cảm biến góc nghiêng tự động bù trừ, nhưng việc ghi chép lại góc bắn vẫn là bắt buộc. Sau khi có 16 trị số, chúng tôi loại bỏ các giá trị ngoại lai (sai lệch quá 20% so với giá trị trung bình) và tính toán trị số bật nẩy trung bình (R) cho điểm đó.
Bước 4: Tiến hành đo bằng máy siêu âm
Có ba cách bố trí đầu dò siêu âm: truyền âm trực tiếp (hai đầu dò đối diện nhau qua cấu kiện), truyền âm bán trực tiếp (hai đầu dò vuông góc ở góc cấu kiện) và truyền âm gián tiếp (hai đầu dò cùng một mặt phẳng). Truyền âm trực tiếp luôn cho kết quả chính xác nhất và được ưu tiên sử dụng.
Chúng tôi bôi chất tiếp âm lên bề mặt, áp chặt hai đầu dò vào vị trí đã đánh dấu và ghi nhận thời gian truyền âm (t) hiển thị trên màn hình. Vận tốc xung siêu âm (V) được tính bằng công thức: V = L / t (trong đó L là khoảng cách giữa hai đầu dò đã đo bằng thước kẹp).
Bước 5: Xử lý số liệu và tính toán cường độ
Sau khi thu thập đủ bộ dữ liệu gồm trị số bật nẩy (R) và vận tốc siêu âm (V) tại tất cả các điểm, số liệu được nhập vào phần mềm hoặc tính toán thủ công dựa trên các công thức thực nghiệm được quy định trong tiêu chuẩn. Công thức tổng quát thường có dạng hàm mũ: Rc = a * (V^b) * (R^c), trong đó Rc là cường độ nén ước tính, còn a, b, c là các hệ số thực nghiệm phụ thuộc vào loại cốt liệu, độ ẩm và tuổi của bê tông. Kết quả cuối cùng là cường độ nén trung bình của vùng kiểm tra, kèm theo hệ số biến động để đánh giá độ đồng nhất của bê tông.
5. Kinh nghiệm thực tế và các yếu tố gây sai số
Lý thuyết là vậy, nhưng thực tế hiện trường luôn phức tạp hơn nhiều. Dưới đây là những kinh nghiệm xương máu mà đội ngũ kỹ sư của chúng tôi đã đúc kết được qua hàng ngàn dự án:
- Ảnh hưởng của độ ẩm: Mặc dù phương pháp kết hợp giúp triệt tiêu phần lớn sai số do độ ẩm, nhưng nếu bê tông đang ở trạng thái bão hòa nước hoàn toàn (ví dụ: bể nước ngầm, móng ngập nước), vận tốc siêu âm sẽ tăng đột biến. Trong trường hợp này, cần áp dụng các hệ số hiệu chỉnh bổ sung theo hướng dẫn của tiêu chuẩn để tránh đánh giá quá cao cường độ bê tông.
- Bê tông bị hỏa hoạn: Khi đánh giá an toàn công trình sau cháy, lớp bê tông bề mặt thường bị biến đổi tính chất hóa lý nghiêm trọng. Súng bật nẩy lúc này gần như vô dụng vì bề mặt đã bị bở rời hoặc nứt vỡ. Phương pháp siêu âm cũng bị ảnh hưởng do các vết nứt vi mô cản trở sóng âm. Đối với công trình cháy, phương pháp kết hợp chỉ mang tính chất tham khảo sơ bộ, bắt buộc phải kết hợp với khoan lấy mẫu ở độ sâu lớn hơn lớp bê tông bị cháy.
- Loại cốt liệu: Bê tông sử dụng cốt liệu đá vôi sẽ có vận tốc siêu âm thấp hơn bê tông dùng cốt liệu đá granite ở cùng một cường độ nén. Nếu không xác định được loại cốt liệu ban đầu, việc áp dụng công thức chung có thể dẫn đến sai số lên đến 15%. Kinh nghiệm của chúng tôi là luôn quan sát kỹ mặt cắt hoặc lõi khoan (nếu có ở vị trí khác) để nhận diện cốt liệu.
- Tuổi của bê tông: Bê tông càng cũ thì quá trình carbonat hóa càng sâu. Đối với các công trình xây dựng từ những năm 1980 – 1990, lớp carbonat hóa có thể dày tới 20mm, làm trị số bật nẩy tăng ảo. Lúc này, trọng số tính toán cần nghiêng về phía kết quả siêu âm nhiều hơn.
6. So sánh phương pháp kết hợp với các phương pháp khác
Để bạn có cái nhìn tổng quan và dễ dàng lựa chọn phương pháp phù hợp cho dự án của mình, chúng tôi lập bảng so sánh chi tiết dưới đây:
| Tiêu chí so sánh | Khoan lấy mẫu (Phá hoại) | Súng bật nẩy (Đơn lẻ) | Siêu âm bê tông (Đơn lẻ) | Kết hợp (TCVN 9335:2012) |
|---|---|---|---|---|
| Độ chính xác | Rất cao (Sai số < 5%) | Thấp (Sai số 20 – 25%) | Trung bình (Sai số 15 – 20%) | Khá cao (Sai số 10 – 15%) |
| Tính phá hoại | Có, để lại lỗ khoan lớn | Không | Không | Không |
| Chi phí thực hiện | Cao (nhân công, thiết bị, trám vá) | Thấp | Trung bình | Trung bình |
| Thời gian thực hiện | Lâu (cần thời gian khoan, nén mẫu) | Rất nhanh | Nhanh | Nhanh |
| Phạm vi đánh giá | Chỉ tại vị trí lõi khoan | Bề mặt nông (2-3 cm) | Toàn bộ tiết diện đường truyền | Cả bề mặt và chiều sâu cấu kiện |
| Điều kiện áp dụng tối ưu | Công trình mới, cần nghiệm thu chính xác | So sánh tương đối độ đồng nhất | Phát hiện khuyết tật, vết nứt sâu | Công trình cũ, không cho phép khoan, không có biểu đồ chuẩn |
Nhìn vào bảng so sánh, có thể thấy phương pháp kết hợp theo TCVN 9335:2012 là sự cân bằng hoàn hảo giữa độ chính xác và tính bảo toàn kết cấu. Đây là lý do tại sao nó luôn là lựa chọn hàng đầu khi tiến hành kiểm định công trình dân dụng và công nghiệp đã qua sử dụng.
7. Ứng dụng thực tiễn trong kiểm định nhà xưởng và công trình
Trong thực tế, chúng tôi thường xuyên áp dụng tiêu chuẩn này cho các dự án kiểm định nhà xưởng sản xuất. Đặc thù của nhà xưởng là không gian rộng, hệ cột và dầm chịu tải trọng động lớn từ máy móc, xe nâng. Khi chủ đầu tư muốn nâng tầng, lắp đặt thêm thiết bị nặng hoặc gia hạn giấy phép hoạt động, cơ quan chức năng thường yêu cầu hồ sơ kiểm định chất lượng hiện trạng.
Việc khoan lấy mẫu lõi trên các cột chịu lực chính của nhà xưởng đang hoạt động là điều tối kỵ, vì nó có thể gây gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng đến an toàn chịu lực tức thời và tốn kém chi phí chống đỡ. Bằng việc sử dụng phương pháp kết hợp siêu âm và súng bật nẩy, đội ngũ kỹ sư của chúng tôi có thể nhanh chóng quét toàn bộ hệ khung kết cấu, thu thập hàng trăm điểm dữ liệu trong thời gian ngắn mà không gây ra bất kỳ tiếng ồn hay bụi bặm nào đáng kể. Kết quả sau đó được tổng hợp thành báo cáo chi tiết, làm cơ sở vững chắc cho các kỹ sư kết cấu tính toán khả năng chịu lực còn lại của nhà xưởng.
8. Các câu hỏi thường gặp (FAQ)
Trong quá trình tư vấn cho khách hàng, chúng tôi nhận được rất nhiều câu hỏi liên quan đến TCVN 9335:2012. Dưới đây là giải đáp cho những thắc mắc phổ biến nhất:
Câu hỏi 1: Phương pháp kết hợp có thể thay thế hoàn toàn việc khoan lấy mẫu không?
Trả lời: Không. Mặc dù phương pháp kết hợp có độ chính xác cao hơn nhiều so với dùng đơn lẻ, nó vẫn là phương pháp gián tiếp. Kết quả tính toán dựa trên các công thức thực nghiệm mang tính thống kê. Trong các trường hợp tranh chấp pháp lý, giám định tư pháp hoặc nghiệm thu công trình đặc biệt quan trọng, khoan lấy mẫu nén phá hoại vẫn là “tiêu chuẩn vàng” để đối chứng. Phương pháp kết hợp chỉ thay thế khi việc khoan lấy mẫu là bất khả thi như tiêu chuẩn đã nêu rõ.
Câu hỏi 2: Bề mặt bê tông bị sơn hoặc dán gạch men có đo được không?
Trả lời: Không thể đo trực tiếp. Lớp sơn, bột trét hay gạch men có mô đun đàn hồi và mật độ khác hoàn toàn với bê tông, sẽ làm sóng siêu âm bị khúc xạ và súng bật nẩy bị hấp thụ năng lượng. Bắt buộc phải mài bỏ hoặc đục bỏ lớp hoàn thiện này cho đến khi lộ ra bề mặt bê tông cốt thép nguyên thủy thì mới tiến hành đo đạc được.
Câu hỏi 3: Sai số của phương pháp kết hợp là bao nhiêu?
Trả lời: Nếu tuân thủ đúng quy trình, thiết bị được hiệu chuẩn chuẩn xác và người đo có kinh nghiệm, sai số của phương pháp kết hợp so với phương pháp nén mẫu khoan thường nằm trong khoảng 10% đến 15%. Độ tin cậy này hoàn toàn chấp nhận được cho mục đích đánh giá an toàn chịu lực tổng thể và phân vùng chất lượng bê tông trên cấu kiện.
Câu hỏi 4: Tại sao phải đo 16 điểm bật nẩy cho một vị trí?
Trả lời: Bê tông là vật liệu không đồng nhất, bao gồm xi măng, cát, đá và các lỗ rỗng. Một viên đá cứng ngay dưới bề mặt có thể làm trị số bật nẩy tăng vọt, trong khi một lỗ rỗng nhỏ lại làm trị số giảm sâu. Việc lấy 16 điểm xung quanh một vùng giúp lấy trung bình thống kê, loại bỏ các giá trị cực đoan (outliers) và phản ánh đúng nhất độ cứng trung bình của vùng bê tông đó.
Câu hỏi 5: Tiêu chuẩn này có áp dụng cho bê tông cốt thép dự ứng lực không?
Trả lời: Có thể áp dụng, nhưng cần hết sức thận trọng. Bê tông dự ứng lực thường có cường độ rất cao (trên 50 MPa) và mật độ cốt thép dày đặc. Việc xác định vị trí đo không vướng cốt thép là cực kỳ khó khăn. Hơn nữa, ứng suất nén trước trong bê tông có thể ảnh hưởng nhẹ đến vận tốc truyền âm. Đối với kết cấu dự ứng lực, chúng tôi thường khuyến nghị kết hợp thêm các phương pháp kiểm tra chuyên sâu khác để có kết luận an toàn nhất.
9. Kết luận
TCVN 9335:2012 thực sự là một công cụ đắc lực, giải quyết bài toán hóc búa về việc đánh giá cường độ bê tông trong điều kiện không thể phá hoại kết cấu và không có dữ liệu lịch sử. Sự kết hợp thông minh giữa nguyên lý cơ học bề mặt của súng bật nẩy và nguyên lý vật lý sóng âm của máy siêu âm đã tạo ra một phương pháp kiểm định vừa nhanh chóng, vừa tiết kiệm, lại có độ tin cậy cao.
Tuy nhiên, thiết bị dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ. Yếu tố quyết định tính chính xác của báo cáo kiểm định nằm ở năng lực, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ kỹ sư thực hiện. Việc phân tích số liệu, nhận diện các yếu tố gây nhiễu và đưa ra kết luận cuối cùng đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về vật liệu bê tông và kết cấu xây dựng.
Nếu bạn đang đối mặt với các vấn đề về đánh giá chất lượng bê tông, cần kiểm định công trình cũ, nhà xưởng, hay đơn giản là muốn tìm kiếm một đơn vị uy tín để thực hiện các thử nghiệm không phá hoại theo đúng chuẩn mực của TCVN 9335:2012, hãy liên hệ ngay với chúng tôi. Kiểm Định Xây Dựng Miền Nam tự hào sở hữu đội ngũ chuyên gia đầu ngành cùng hệ thống phòng thí nghiệm LAS đạt chuẩn quốc gia, cam kết mang lại những kết quả kiểm định trung thực, chính xác và nhanh chóng nhất.
Đừng để những nghi ngờ về chất lượng bê tông làm chậm tiến độ dự án hay ảnh hưởng đến sự an toàn của công trình. Hãy gọi ngay cho chúng tôi qua Hotline 0868.393.098 để được tư vấn giải pháp kỹ thuật tối ưu và nhận báo giá chi tiết ngay trong hôm nay. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng hành cùng sự vững bền của mọi công trình trên khắp mọi miền đất nước.
Bài viết liên quan
TCVN 3109:2022 Hỗn hợp bê tông – Phương pháp xác định độ tách vữa và độ tách nước
TCVN 3109:2022 Hỗn hợp bê tông – Phương pháp xác định độ tách vữa và độ tách nước…
Áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài cho dự án
PHÂN TÍCH TỔNG HỢP: ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG *(Cập nhật theo Luật Xây…
TCVN 13946:2024 Vật liệu san lấp tái chế từ phế thải phá dỡ công trình
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA Mục lục29 mụcTCVN 13946:2024VẬT LIỆU SAN LẤP TÁI CHẾ TỪ PHẾ THẢI PHÁ DỠ…
TCVN 9354 : 2012 Đất xây dựng – Phương pháp xác định môđun biến dạng tại hiện trường bằng tấm nén phẳng
TCVN 9362:2012 Thiết kế nền nhà và công trình Mục lục2 mụcTIÊU CHUẨN QUỐC GIATCVN 9354:2012 TIÊU CHUẨN…
TCVN 13536:2022, Bê tông – Phương pháp siêu âm xác định cường độ chịu nén
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN 13536:2022 BÊ TÔNG – PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ CHỊU…
TCVN 5573 : 2011 Kết cấu gạch đá & gạch đá cốt thép – Tiêu chuẩn thiết kế
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN 5573 : 2011 KẾT CẤU GẠCH ĐÁ VÀ GẠCH ĐÁ CỐT THÉP –…