Kiểm định Xây dựng
Ngày 20/5/2022, Bộ Xây dựng đã có công văn 1724/BXD-HĐXD gửi Công ty Cổ phần BQL Real, tỉnh Vĩnh Phúc về việc hướng dẫn chính sách pháp luật tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP.
1. Về quy định của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP:
Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, trong đó có bổ sung quy định về dự án đầu tư xây dựng khu đô thị tại điểm đ khoản 1 Điều 1 (bổ sung khoản 15a Điều 3) như sau: “Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị là dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp, đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với nhà ở hoặc công trình xây dựng khác theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt để xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang đô thị.”.
Khoản 8 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 (sửa đổi, bổ sung Điều 49) quy định về phân loại dự án đầu tư xây dựng (bao gồm dự án đầu tư xây dựng khu đô thị); trong đó, nội dung phân loại cụ thể các dự án đầu tư xây dựng sẽ do Chính phủ quy định chi tiết theo quy định tại khoản 6 Điều này.
Quy định chi tiết việc phân loại dự án đầu tư xây dựng khu đô thị đã được quy định tại điểm 1(a) Mục VII Phụ lục IX Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng như sau:
“a) Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị có nhà ở là dự án được đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hình thành từ một đơn vị ở trở lên theo quy hoạch phân khu được phê duyệt hoặc dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 héc ta trở lên đối với trường hợp quy hoạch phân khu không xác định rõ các đơn vị ở;
b) Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị không có nhà ở là dự án được đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với các công trình xây dựng khác có quy mô sử dụng đất từ 20 héc ta trở lên.”.
Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 và Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng đã sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm phân định rõ ràng giữa dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng nhà ở, làm cơ sở thực hiện việc quản lý chuyên ngành theo quy định của pháp luật về xây dựng đối với Khu đô thị.
2. Về phản ánh tác động của quy định phân loại Khu đô thị tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP lên các quy định của pháp luật đất đai và đầu tư:
Nhà đầu tư phản ánh Nghị định số 15/2021/NĐ-CP làm thay đổi việc áp dụng các quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013, trong đó quy định các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm: Dự án xây dựng Khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn. Thủ tục lựa chọn Nhà đầu tư đối với các Dự án này được thực hiện theo trình tự và thủ tục đấu thầu lựa chọn Nhà đầu tư quy định tại Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn Nhà đầu tư và Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư. Bộ Xây dựng ghi nhận ý kiến của Công ty Cổ phần BQL Real để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Việc không định nghĩa riêng “Khu đô thị mới” tại pháp luật về đất đai mà tham chiếu định nghĩa tại pháp luật về quy hoạch, xây dựng và việc áp dụng chuyển tiếp cho các dự án, đề nghị Công ty Cổ phần BQL Real liên hệ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn.
Nội dung chi tiết xem tệp đính kèm:
BXD_1724-BXD-HDXD_20052022.pdf
Phân tích chuyên sâu: Tác động thực tiễn của quy định phân loại khu đô thị theo Nghị định 15/2021/NĐ-CP
Việc phân loại rõ ràng dự án đầu tư xây dựng khu đô thị tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP không chỉ mang tính kỹ thuật trong quản lý xây dựng mà còn tạo ra những hệ lụy pháp lý và vận hành đáng kể đối với các chủ đầu tư, cơ quan quản lý địa phương và cả người dân. Dưới góc nhìn thực tiễn, chúng tôi – với kinh nghiệm đồng hành cùng hàng chục dự án hạ tầng và khu đô thị tại khu vực phía Nam – nhận thấy rằng sự thay đổi này đã làm thay đổi cách tiếp cận từ khâu lập kế hoạch sử dụng đất đến lựa chọn nhà đầu tư, thậm chí ảnh hưởng đến chiến lược phát triển dự án.
1. Thay đổi căn bản trong cách xác định “dự án khu đô thị”
Trước khi Nghị định 15/2021/NĐ-CP có hiệu lực, nhiều địa phương vẫn áp dụng cách hiểu truyền thống: bất kỳ dự án nào có tên gọi “khu đô thị mới” đều mặc nhiên được xem là thuộc diện phải thu hồi đất theo điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013. Tuy nhiên, với định nghĩa mới, yếu tố then chốt không còn là “tên gọi” mà là tính chất dự án: phải có hạ tầng kỹ thuật – xã hội đồng bộ, quy mô tối thiểu 20 ha (hoặc hình thành từ một đơn vị ở trở lên theo quy hoạch phân khu).
Điều này dẫn đến một nghịch lý phổ biến: nhiều dự án dưới 20 ha, dù mang tên “khu đô thị”, lại không đủ điều kiện để được coi là “dự án khu đô thị” theo quy định xây dựng, do đó không thuộc diện thu hồi đất theo Luật Đất đai. Chủ đầu tư buộc phải chuyển sang hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất – một quá trình phức tạp hơn, rủi ro pháp lý cao hơn, đặc biệt khi vướng vào tranh chấp đất đai hoặc đất nông nghiệp chưa được chuyển mục đích.
2. Tác động đến quy trình lựa chọn nhà đầu tư
Khi một dự án không còn được xếp vào nhóm “khu đô thị mới” theo định nghĩa mới, nó cũng thoát khỏi khuôn khổ đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo Nghị định 25/2020/NĐ-CP và Nghị định 31/2021/NĐ-CP. Thay vào đó, chủ đầu tư có thể áp dụng hình thức chỉ định hoặc thỏa thuận dân sự thông thường – nhưng điều này lại gây khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc kiểm soát chất lượng, tiến độ và cam kết hạ tầng.
Trong thực tế, nhiều địa phương hiện nay đang lúng túng: họ muốn thu hút đầu tư nhưng lại e ngại việc “lách” định nghĩa để né đấu thầu, dẫn đến tình trạng chậm phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ không cần thiết. Chúng tôi từng hỗ trợ một chủ đầu tư tại Đồng Nai mất gần 8 tháng chỉ để làm rõ tính chất dự án – liệu có phải “khu đô thị” hay chỉ là “khu dân cư hỗn hợp” – trước khi được UBND tỉnh chấp thuận phương án thực hiện.
3. Mối liên hệ với công tác kiểm định và đánh giá an toàn công trình
Một hệ quả gián tiếp nhưng rất quan trọng là: khi dự án được phân loại sai, toàn bộ chuỗi quản lý chất lượng công trình – từ thiết kế, thi công đến nghiệm thu – có thể bị lệch hướng. Các dự án khu đô thị quy mô lớn đòi hỏi quy trình đánh giá an toàn công trình nghiêm ngặt, đặc biệt với hệ thống hạ tầng kỹ thuật như cống, đường, điện, nước.
Nếu một dự án dưới 20 ha tự xưng là “khu đô thị” nhưng không đáp ứng tiêu chí pháp lý, chủ đầu tư có thể bỏ qua các bước thẩm tra thiết kế bắt buộc hoặc thuê đơn vị kiểm định không đủ năng lực. Về lâu dài, điều này tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho cư dân và làm giảm giá trị tài sản. Do đó, ngay từ giai đoạn đầu, việc xác định đúng loại hình dự án là nền tảng để triển khai đúng quy trình kiểm định xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý.
4. Lưu ý quan trọng cho chủ đầu tư và cơ quan quản lý
- Không nên dựa vào tên gọi dự án để xác định loại hình. Cần đối chiếu trực tiếp với quy hoạch phân khu và diện tích sử dụng đất.
- Rà soát lại các dự án đang triển khai dở dang: nếu khởi công trước ngày Nghị định 15/2021/NĐ-CP có hiệu lực nhưng chưa hoàn tất thủ tục đất đai, cần xác định lại tính chất để tránh vướng mắc pháp lý về sau.
- Phối hợp chặt chẽ với Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên & Môi trường ngay từ khâu lập đề xuất dự án để thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật.
- Lưu trữ đầy đủ hồ sơ quy hoạch, bản vẽ phân lô, thuyết minh hạ tầng – đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chứng minh dự án có/hay không thuộc diện “khu đô thị”.
5. Câu hỏi thường gặp (FAQ)
- Hỏi: Dự án 15 ha, có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật và xã hội, có được coi là “khu đô thị” không?
Đáp: Không. Theo điểm a Mục VII Phụ lục IX Nghị định 15/2021/NĐ-CP, nếu quy hoạch phân khu không xác định rõ “đơn vị ở”, thì phải đạt tối thiểu 20 ha mới được xem là khu đô thị có nhà ở. - Hỏi: Dự án khu đô thị không có nhà ở (chỉ có trung tâm thương mại, văn phòng) dưới 20 ha có bị ảnh hưởng?
Đáp: Có. Loại này bắt buộc phải ≥20 ha. Nếu nhỏ hơn, sẽ không được phân loại là “khu đô thị” và không thuộc diện thu hồi đất theo Luật Đất đai. - Hỏi: Việc phân loại sai có dẫn đến hủy dự án không?
Đáp: Không trực tiếp, nhưng có thể khiến dự án không được cấp giấy phép xây dựng, không được giao đất, hoặc bị thanh tra kết luận vi phạm trong lựa chọn nhà đầu tư. - Hỏi: Dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị có bị áp dụng quy định mới không?
Đáp: Có. Luật Xây dựng sửa đổi 2020 bao gồm cả “xây dựng mới hoặc cải tạo, chỉnh trang”, nên quy định phân loại tại Nghị định 15/2021/NĐ-CP vẫn áp dụng. - Hỏi: Làm sao biết quy hoạch phân khu có “xác định rõ đơn vị ở” hay không?
Đáp: Cần xem bản đồ quy hoạch phân khu được UBND cấp tỉnh phê duyệt. Nếu có ranh giới cụ thể của “đơn vị ở” (thường tương đương tổ dân phố hoặc cụm dân cư), thì dự án chỉ cần hình thành từ 1 đơn vị ở trở lên – không cần đủ 20 ha. - Hỏi: Có cần kiểm định công trình cho toàn bộ hạ tầng khu đô thị không?
Đáp: Có. Đặc biệt với các công trình hạ tầng kỹ thuật có quy mô lớn (cầu, cống, trạm bơm…), việc kiểm định công trình là bắt buộc để đảm bảo an toàn và nghiệm thu đưa vào sử dụng.
6. Kết luận: Hướng tới sự minh bạch và bền vững
Quy định phân loại khu đô thị tại Nghị định 15/2021/NĐ-CP, dù gây lúng túng ban đầu, nhưng về lâu dài giúp làm rõ trách nhiệm quản lý giữa các ngành: xây dựng, đất đai và đầu tư. Đối với chủ đầu tư, đây là cơ hội để chuẩn hóa quy trình phát triển dự án, tránh “đánh cắp” danh nghĩa “khu đô thị” để hưởng lợi từ cơ chế thu hồi đất. Với cơ quan quản lý, đây là công cụ để kiểm soát chất lượng đô thị hóa, đảm bảo hạ tầng đi trước một bước.
Bạn đang triển khai dự án khu đô thị và cần hỗ trợ xác định loại hình, đánh giá an toàn hạ tầng hoặc kiểm định công trình? Hãy liên hệ ngay với đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi để được tư vấn chính xác, kịp thời và phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện hành.
Chi tiết về vấn đề này, bạn có thể xem lại bài viết đầy đủ tại: Tác động của quy định phân loại Khu đô thị tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP.
Kiểm Định Xây Dựng Miền Nam – đơn vị uy tín trong lĩnh vực kiểm định, giám định và đánh giá an toàn công trình tại khu vực phía Nam – luôn sẵn sàng đồng hành cùng chủ đầu tư, nhà thầu và cơ quan quản lý trong mọi giai đoạn của dự án. Gọi ngay Hotline 0868.393.098 để được hỗ trợ chuyên môn 24/7.
Bài viết liên quan
Điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư
01/04/2021 2:03:24 CH Mục lục15 mụcĐiều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử…
Bảo trì công trình xây dựng
BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Từ Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 ngày 10/12/2025 và Nghị định 06/2021/NĐ-CP…
Luật đầu tư 2025 (số 143/2025/QH15 ngày 11/12/2025)
LUẬT ĐẦU TƯ số: 143/2025/QH15 Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…
Xác định hành vi vi phạm hành chính điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh
1. Về việc xác định hành vi vi phạm hành chính Mục lục6 mục1. Yêu cầu kỹ thuật…
Tính khối lượng của kết cấu
1. Việc áp dụng quy định pháp luật về xây dựng tương ứng với thời điểm thực hiện…
Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung…